Cổng thông tin điện tử

Hội đông y tỉnh khánh hòa

Địa chỉ: 01 Sinh Trung, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Tìm kiếm

Bài viết mới nhất

Lượt truy cập

Lượt truy cập từ 2010
17269
Trong ngày: 73
Trong tháng: 802
Trong năm 2019: 1730

LIỆT MẶT

LIỆT MẶT _ Nguyên lý nội khoa Harrison _ Tái bản lần thứ 19 _ 2016

BIÊN DỊCH VÀ HIỆU ĐÍNH
DR. ĐOÀN VŨ XUÂN PHÚC- Chi hội Đông y Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa
DR. ĐOÀN VŨ XUÂN LỘC
DR. NGUYỄN THANH NHUNG
DR. HỒ XUÂN DŨNG

YẾU CƠ MẶT

SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU

(Hình 455-2) Thần kinh sọ não số VII phân bố cho tất cả các cơ liên quan đến biểu hiện nét mặt. Phần cảm giác thì nhỏ (thần kinh trung gian); nhận cảm giác vị giác ở 2/3 trước lưỡi và các xung động da ở thành trước của ống tai ngoài. Nhân vận động của thần kinh số VII nằm phía trước và phía ngoài nhân thần kinh vận nhãn ngoài (VI). Sau khi rời khỏi cầu não, dây thần kinh số VII vào lỗ tai trong vùng với dây thần kinh thính giác. Dây thần kinh số VII tiếp tục đường đi trong kênh xương, ống thần kinh mặt, và ra ngoài sọ qua lỗ trâm chũm. Sau đó dây thần kinh đi qua tuyến mang tai và phân các nhánh phân bố cho các cơ mặt.

Đứt hoàn toàn thần kinh mặt ở lỗ trâm chũm gây liệt toàn bộ các cơ biểu hiện nét mặt. Góc miệng trễ xuống, các nếp lằn và nếp nhăn da bị mờ, trán không có nếp nhăn và mi mắt không nhắm lại được. Lúc gắng nhắm mi, mắt bên liệt di chuyển lên trên (dấu Bell). Mi dưới chùng xuống và sa khỏi kết mạc làm nước mắt tràn ra má. Thức ăn dồn đọng giữa răng và môi, nước bọt có thể chảy ra góc miệng. Bệnh nhân than phiền thấy nặng hoặc tê ở mặt, nhưng ít khi mất cảm giác và vị giác không thay đổi.

Nếu tổn thương ở phần tai giữa sẽ có mất vị giác ở 2/3 trước lưỡi cùng bên. Nếu dây thần kinh đến cơ bàn đạp bị gián đoạn thì có chứng tăng nhạy cảm với âm thanh (nhạy cảm với âm thanh lớn). Tổn thương ở ống tai trong có thể ảnh hưởng đến thần kinh tiền đình ốc tai bên cạnh, gây điếc tai, ù tai hoặc chóng mặt. Tổn thương trong cầu não gây liệt mặt thường ảnh hưởng đến nhân thần kinh vận nhãn ngoài (VI), cũng như ảnh hưởng đến các bó vỏ gai và bó cảm giác.

Nếu liệt mặt ngoại vi kéo dài một thời gian và sự phục hồi chức năng vận động không hoàn toàn, thì có thể xuất hiện tình trạng co kéo lan tỏa liên tục các cơ mặt. Khe mi mắt bị hẹp lại và rãnh mũi môi trở nên sâu hơn. Gắng vận động một nhóm các cơ mặt có thể dẫn đến tình trạng co kéo tất cả các cơ (những vận động kèm theo hoặc chứng đồng động). Co thắt cơ mặt, khởi phát bởi sự vận động mặt có thể tiến triển (chứng co kéo nửa mặt). Sự phục hồi bất thường các sợi thần kinh của dây VII có thể dẫn đến các hiện tượng khó chịu khác. Nếu các sợi nguyên phát liên kết với cơ vòng ổ mắt đến phân bố cho các cơ vòng miệng, thì khi nhắm mắt có thể gây ra co kéo miệng, hoặc nếu các sợi nguyên phát liên kết với các cơ mặt phân bố lại cho tuyến lệ, thì sự tiết nước mắt bất thường (“nước mắt cá sấu”) có thể xuất hiện khi có bất kỳ hoạt động nào của cơ mặt như khi ăn. Các chứng đồng động của cơ mặt khác được kích hoạt khi há hàm gây nhắm mi mắt bên mặt bị liệt (chứng hàm-nháy mắt).

Hình 455-2 Thần kinh mặt. A, B, và C biểu thị các tổn thương thần kinh mặt tương ứng ở lỗ trâm chũm, đoạn xa và đoạn gần hạch gối. Đường màu xanh biểu thị các sợi phó giao cảm, đường màu đỏ biểu thị các sợi vận động và đường màu tím biểu thị các sợi hướng tâm cảm giác (vị giác). (Trích từ MB Carpenter: Core Text  of Neuroanatomy, 2nd ed. Williams & Wilkins, 1978.)

LIỆT BELL

Kiểu liệt mặt thường gặp nhất là liệt Bell. Tỉ lệ mắc bệnh lý tự phát này là khoảng 25/100000 người mỗi năm hoặc 1/60 người trong suốt cuộc đời. Yếu tố nguy cơ bao gồm mang thai và bệnh đái tháo đường

CÁC BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Liệt Bell thường khởi phát khá đột ngột, và nhìn chung tiến triển đến yếu nặng trong vòng 48 giờ. Đau phía sau tai có thể xuất hiện trước liệt từ một đến hai ngày. Có thể có mất cảm giác vị giác ở một bên và tăng nhạy cảm với âm thanh. Một số trường hợp, có tăng nhẹ tế bào lympho trong dịch não tủy. Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) có thể thấy phù nề và ngấm thuốc đồng nhất hạch gối và dây thần kinh mặt, và trong một số trường hợp, có thể thấy sự chèn ép thần kinh bị phù nề trong xương thái dương. Khoảng 80% bệnh nhân phục hồi trong vòng vài tuần đến vài tháng. Điện cơ đồ có thể có giá trị tiên lượng; bằng chứng phẫu tích dây thần kinh sau 10 ngày cho thấy có sự thoái sợi trục, điều này có thể kéo dài hơn (thường là 3 tháng) trước khi xuất hiện sự phục hồi, và có thể là không hoàn toàn. Liệt không hoàn toàn trong tuần đầu tiên là dấu hiệu tiên lượng tốt nhất. Tình trạng tái phát được ghi nhận khoảng 7% các trường hợp.

SINH LÝ BỆNH

Trong liệt Bell cấp, có tình trạng viêm thần kinh mặt với các tế bào đơn nhân, phù hợp với nguyên nhân nhiễm trùng hoặc miễn dịch. DNA của virut Herpes simplex (HSV) type 1 thường được phát hiện trong dịch nội mô thần kinh và cơ sau tai, gợi ý rằng sự tái hoạt động của vi rút này tại hạch gối có thể là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp. Sự tái hoạt động của virut Varicella zoster kết hợp với liệt Bell chiếm trên 1/3 các trường hợp và có thể là nguyên nhân thứ hai thường gặp nhất. Các chủng virut khác cũng có thể liên quan nhưng ít gặp hơn. Tỉ lệ mắc bệnh liệt Bell gia tăng được ghi nhận trong số những người tiếp nhận vaccine cúm trong mũi đã bất hoạt, và điều này được giả thiết là do độc tố vi khuẩn Escherichia coli được sử dụng như là tá dược hoặc do sự tái hoạt động của vi rút tiềm ẩn.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Có nhiều nguyên nhân khác gây liệt mặt cấp tính phải xem xét trong chẩn đoán phân biệt với liệt Bell. Bệnh Lyme có thể gây liệt mặt một bên hoặc hai bên; trong vùng dịch tễ thì 10% hoặc nhiều hơn các trường hợp liệt mặt là do nhiễm khuẩn Borrelia burgdorferi (Chương 210).

Hội chứng Ramsay Hunt, do sự tái hoạt động của virut Herpes zoster ở hạch gối, bao gồm liệt mặt nặng kèm với nổi mụn nước trong ống tai ngoài, đôi khi ở vùng hầu họng và các phần khác trên da đầu; thường thì dây thần kinh sọ não số VIII cũng bị ảnh hưởng theo.

Liệt mặt thường xuất hiện hai bên trong bệnh sarcoidosis (Chương 390) và trong hội chứng Guillain-Barré (Chương 460).

Bệnh phong thường liên quan đến thần kinh mặt, và bệnh lý thần kinh mặt cũng có thể gặp trong bệnh lý đái tháo đường, bệnh lý mô liên kết bao gồm hội chứng Sjögren và bệnh thoái hóa tinh bột.

Hội chứng hiếm gặp Melkersson-Rosenthal bao gồm liệt mặt tái phát; phù mặt (đặc biệt là môi) tái đi tái lại thậm chí là vĩnh viễn; và ít gặp hơn là lưỡi có nếp gấp. Nguyên nhân gây bệnh này không rõ.

U dây thần kinh thính giác thường liên quan đến thần kinh mặt do sự chèn ép cục bộ.

Nhồi máu, tổn thương hủy myelin của bệnh lý xơ hóa đa ổ (MS), và các khối u là những tổn thương cầu não thường gặp; các dấu hiệu khác liên quan đến thân não cũng thường thấy.

Các khối u xâm lấn xương thái dương (u thể cảnh,  u cholesteatoma, u da) có thể gây liệt mặt, nhưng khởi phát âm thầm và diễn tiến theo thời gian.

Tất cả các kiểu liệt mặt nhân hoặc liệt mặt ngoại vi phải được phân biệt với liệt mặt trên nhân. Trong liệt mặt trên nhân, các trán và cơ vòng ổ mắt ở vùng trán ít bị ảnh hưởng hơn so với các cơ ở phần dưới của mặt, vì các cơ mặt phần trên được chi phối bởi đường dẫn truyền vỏ não-hành tủy từ vỏ não vận động hai bên, trong khi các cơ mặt phần dưới chỉ được chi phối bởi bán cầu não đối bên. Trong tổn thương trên nhân, có thể có sự phân ly giữa vận động cảm xúc và vận động cơ mặt tự ý, và thường có ít nhiều mức độ liệt tay và chân hoặc có chứng thất ngôn (tổn thương bán cầu ưu thế).

ĐÁNH GIÁ CẬN LÂM SÀNG

Thường có thể chẩn đoán liệt Bell dựa trên lâm sàng ở bệnh nhân có

(1) dấu hiệu điển hình,

(2) không có các yếu tố nguy cơ hoặc các triệu chứng tồn tại trước đó đối với các nguyên nhân gây liệt mặt khác,

(3) không có tổn thương da do Herpes zoster ở ống tai ngoài, và

(4) thăm khám thần kinh bình thường ngoại trừ thần kinh mặt.

Đặc biệt cần chú ý đến thần kinh sọ não số VIII, có đường đi gần với thần kinh mặt ở chỗ nối hành não-cầu não và trong xương thái dương, và với các thần kinh sọ não khác. Những trường hợp không điển hình hoặc không chắc chắn, có thể chỉ định xét nghiệm ESR (Erythrocyte Sedimentation Rate, tốc độ lắng máu), kiểm tra đái tháo đường, độ chuẩn bệnh Lyme, men chuyển angiotensin và các thăm khám hình ảnh ngực có thể phát hiện bệnh sarcoidosis, chọc dò thắt lưng tìm hội chứng Guillain-Barré, hoặc chụp MRI. MRI thường cho thấy tình trạng phù nề và ngấm thuốc dây thần kinh mặt trong liệt Bell tự phát (hình 455-3).

Hình 455-3 Hình chuỗi xung T1 xóa mỡ sau tiêm gadolinium ở mặt cắt ngang và mặt cắt trán thấy sự ngấm thuốc khuếch tán đồng nhất dạng đường thẳng của dây thần kinh mặt bên trái, liên đến đoạn gối, đoạn mạng nhĩ và đoạn chũm trong xương thái dương (mũi tên), không có bằng chứng của thương tổn dạng khối choán chỗ. Mặc dù gợi ý cao liệt Bell, các đặc điểm tương tự có thể gặp ở các bệnh căn khác như bệnh Lyme, sarcoidosis và sự lan tràn ác tính quanh thần kinh.

ĐIỀU TRỊ LIỆT BELL

Điều trị triệu chứng bao gồm (1) dùng băng giấy đè mi mắt trên trong khi ngủ và ngăn ngừa tình trạng khô giác mạc, (2) xoa bóp các cơ bị yếu. Một liệu trình glucocorticoids, dùng prednisone 60-80 mg hằng ngày trong 5 ngày đầu tiên, sau đó giảm liều dần trong 5 ngày tiếp theo, giúp rút ngắn thời gian phục hồi và cải thiện kết quả về mặt chức năng một cách vừa phải. Mặc dù các thử nghiệm ngẫu nhiên lớn và có kiểm soát tốt cho thấy không có thêm lợi ích khi sử dụng các thuốc kháng virut như valacyclovir (1000 mg mỗi ngày từ 5-7 ngày) hoặc acyclovir (400 mg năm lần mỗi ngày trong 10 ngày) so với dùng đơn độc glucocorticoids, một số dữ liệu mới đây đề nghị rằng liệu pháp phối hợp prednisone với valacyclovir có thể tốt hơn đáng kể so với sử dụng đơn liệu pháp prednisolone, đặc biệt ở những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng. Đối với những bệnh nhân bị liệt mặt vĩnh viễn do liệt Bell, nhiều phương pháp phẫu thuật thẫm mỹ có thể được dùng để phục hồi hình dạng cân đối của khuôn mặt một cách tương đối.

Thành viên Hội Đông Y Khánh Hòa

  • Hội ĐY huyện Vạn Ninh
  • Hội ĐY thị xã Ninh Hòa
  • Hội ĐY thành phố Nha Trang
  • Hội ĐY huyện Diên Khánh
  • Hội ĐY huyện Cam Lâm
  • Hội ĐY thành phố Cam Ranh
  • Chi hội Văn phòng & Phòng chẩn trị
  • Chi hội BV YHCT- Phục hồi chức năng
  • Chi hội BV đa khoa tỉnh
  • Chi hội BV 87
  • Chi hội Phòng khám Cựu chiến binh
  • Chi hội Cty Đông Nam dược Thiên Nam
  • Chi hội ĐY huyện Trường Sa
  • Chi hội TTYT huyện Khánh Sơn
  • Chi hội Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa
  • Chi hội Bệnh viện Giao thông Vận tải Nha Trang
  • Chi hội ĐY huyện Khánh Vĩnh