Cổng thông tin điện tử

Hội đông y tỉnh khánh hòa

Địa chỉ: 01 Sinh Trung, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Tìm kiếm

Bài viết mới nhất

Lượt truy cập

Lượt truy cập từ 2010
17269
Trong ngày: 73
Trong tháng: 802
Trong năm 2019: 1730

CHÂM CỨU- LUẬN VỀ HUYỆT ÂM KHÍCH

Vị trí huyệt Âm khích

ÂM KHÍCH HE-6

  YĪNXÌ / YIN CLEFT

BIÊN DỊCH VÀ HIỆU ĐÍNH: ĐOÀN VŨ XUÂN PHÚC- Chi hội Đông y Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa

Huyệt Khích của kinh Tâm

VỊ TRÍ

Ở bờ quay gân cơ gấp cổ tay trụ, cách Thần môn HE-7 phía trên (phía đầu gần) 0,5 thốn.

Claudia Focks (2008). Atlas of Acupuncture. Churchill Livingstone

CÁCH CHÂM

Châm thẳng sâu 0,3-0,5 thốn hoặc châm chếch về phía đầu gần hoặc đầu xa 0,5-1 thốn.

CÔNG NĂNG

  • Điều hòa Tâm huyết
  • An thần
  • Chỉ thống
  • Thanh hư nhiệt, chỉ hãn

CHỈ ĐỊNH

  • Đau vùng tim (Tâm thống), tim đau nhói không chịu nổi, đau như dao đâm, nặng tức ngực, hồi hộp, hồi hộp do sợ, sợ hãi, khí nghịch loạn do kinh sợ, động kinh, mất tiếng, loạn nhịp tim đột ngột kèm đau ngực.
  • Chảy máu mũi, nôn ra máu, khí nghịch
  • Ra mồ hôi trộm, nhức trong xương (chứng cốt chưng)

BÀN LUẬN

Âm khích HE-6 là huyệt Khích của kinh Tâm. Huyệt Khích là nơi khí huyết, lưu hành tương đối nông dọc theo đường kinh từ các Kinh huyệt, tụ lại và vào sâu hơn. Nhìn chung, huyệt Khích thường dùng để điều trị các chứng trạng cấp tính và các chứng đau, trong khi các huyệt Khích của các kinh âm còn có thêm tác dụng điều trị các bệnh chứng về Huyết. Âm khích HE-6 được chỉ định điều trị chứng Tâm thống do huyết ứ và xuất huyết do nhiệt cực bức huyết vọng hành. Tuy nhiên, đối với cả hai công năng này thì Khích môn P-4, huyệt Khích của kinh Tâm bào, thường được sử dụng trên lâm sàng hơn. Tình trạng đau cấp nặng do huyết ứ ảnh hưởng đến Tâm dương vì vậy, nguyên tắc điều trị chính yếu là sử dụng các huyệt của kinh Tâm bào vì Tâm bào bảo vệ Tâm. Điều này được nói đến trong Linh Khu12 “Tâm là vị đại chủ của ngũ tạng lục phủ và là chổ ở của tinh-thần… Nếu Tâm bị thương, thì thần đi mất, thần mất thì sẽ chết, cho nên tà khí thương Tâm sẽ hướng tập trung vào tâm bào” (Linh khu, 71).

Sở trường của Âm khích HE-6 là ở khả năng điều trị các bệnh lý về âm dịch của Tâm. Tiêu U Phú viết “Tả Âm khích HE-6 sẽ dừng được ra mồ hôi ban đêm và điều trị được chứng cốt chưng ở trẻ em”. Đây là ứng dụng cơ bản của huyệt Âm khích HE-6 trong thực hành lâm sàng. Y tông tất độc (Lý Trung Tử) có viết “Cái được Tâm tàng trữ bên trong là huyết, tiết ra bên ngoài là mồ hôi; mồ hôi là dịch của Tâm”. Do mối liên quan mật thiết giữa Tâm huyết và mồ hôi, và công năng của các huyệt Khích là điều hòa huyết dịch, Âm khích HE-6 là huyệt thiết yếu điều trị chứng ra mồ hôi trộm do Tâm âm hư hoặc Tâm huyết hư. Ban đêm là lúc âm thịnh và trong khi ngủ (khi cơ thể được che phủ, Vệ khí thuộc dương bảo vệ bên ngoài không nhiều) Vệ khí vào sâu bên trong để được âm dịch nuôi dưỡng. Nếu âm hư, thì không thể kéo giữ Vệ khí vào trong, hư nhiệt sẽ tràn ra bên ngoài bức bách tân dịch tiết ra làm ra mồ hôi. Ngoài ra, khi Tâm huyết bất túc, khí huyết mất cân bằng, khí thoát ra bên ngoài gây nên chứng ra mồ hôi trộm, đặc trưng bởi cảm giác nóng ít hơn so với chứng âm hư. Việc kiểm soát tình trạng ra mồ hôi trộm luôn được ưu tiên điều trị vì mồ hôi tiết ra trong bệnh chứng này (Đông y gọi là đạo hãn-ra mồ hôi trộm) chứa âm dinh và nếu kéo dài sẽ làm nặng thêm tình trạng hư nhược.

Cần lưu ý rằng ra mồ hôi ban đêm, mặc dù thường do hai loại bệnh chứng đã được mô tả ở trên, nhưng cũng có thể xảy ra như là hậu quả của các bệnh chứng thất điều khác, đặc biệt do thấp nhiệt, Tỳ hư thấp trệ, bệnh chứng bán biểu bán lý và tình trạng mất điều hòa giữa dinh khí và vệ khí. Do tác dụng quan trọng là làm chấm dứt tình trạng ra mồ hôi ban đêm, cho nên có thể dùng huyệt Âm khích HE-6 phối hợp với các huyệt thích hợp khác trong bất kỳ bệnh chứng nào nói trên.

Chứng cốt chưng là một dạng sốt do âm hư. Đặc trưng bởi cảm giác nóng sâu bên trong xương lan ra ngoài da và thường đi kèm với triệu chứng sốt về chiều (triều nhiệt), ngủ không yên và ra mồ hôi ban đêm. Đó là biểu hiện sâu bên trong của chứng âm hư nội nhiệt và cũng thường gặp trong bệnh cảnh của các bệnh lý trầm trọng khác. Âm khích HE-6 là một trong những huyệt chính yếu được sử dụng để điều trị bệnh chứng này.

Sau hết, vì là huyệt Khích của kinh Tâm, Âm khích HE-6 còn có công năng ninh Tâm an thần trong nhưng tình huống cấp tính và được chỉ định cho chứng kinh sợ cấp – có hoặc không có hồi hộp kèm theo. Huyệt cũng được chỉ định đặc biệt đối với chứng ‘khí nghịch do kinh sợ’. Liên quan đến tình trạng mất ý thức (chứng nghịch) xảy ra khi giận quá mức làm khí kết, hoặc kinh sợ cấp và mạnh làm khí hạ.

PHỐI HUYỆT

  • Ra mồ hôi ban đêm (đạo hãn): Âm khích HE-6 phối Hậu khê SI-3 (Châm Cứu Tụ Anh. Bách Chứng Phú).
  • Sợ hãi quá mức: Âm khích HE-6 phối Gian sử P-5, Nhị gian L.I.-2 và Lệ đoài ST-45 (Châm Cứu Tư Sinh Kinh).
  • Đau vùng tim (Tâm thống) kèm cảm giác phiền, nặng tức và cứng lưỡi: Âm khích HE-6 phối Trung xung P-9 (Châm Cứu Tư Sinh Kinh).
  • Đau vùng tim (Tâm thống): Âm khích HE-6 phối Hành gian LIV-2 (Châm Cứu Tư Sinh Kinh).

[1]

Thành viên Hội Đông Y Khánh Hòa

  • Hội ĐY huyện Vạn Ninh
  • Hội ĐY thị xã Ninh Hòa
  • Hội ĐY thành phố Nha Trang
  • Hội ĐY huyện Diên Khánh
  • Hội ĐY huyện Cam Lâm
  • Hội ĐY thành phố Cam Ranh
  • Chi hội Văn phòng & Phòng chẩn trị
  • Chi hội BV YHCT- Phục hồi chức năng
  • Chi hội BV đa khoa tỉnh
  • Chi hội BV 87
  • Chi hội Phòng khám Cựu chiến binh
  • Chi hội Cty Đông Nam dược Thiên Nam
  • Chi hội ĐY huyện Trường Sa
  • Chi hội TTYT huyện Khánh Sơn
  • Chi hội Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa
  • Chi hội Bệnh viện Giao thông Vận tải Nha Trang
  • Chi hội ĐY huyện Khánh Vĩnh